Logo
phone_in_talk 0866 466 288
Tin tức

Một số vấn đề về phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng, tiềm năng và hàm ý giải pháp

Một số vấn đề về phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng, tiềm năng và hàm ý giải pháp

TCCS - Hiện nay, quy mô thị trường cho các sản phẩm dịch vụ xanh, năng lượng mới ngày càng được mở rộng, là điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh mẽ các ngành năng lượng tái tạo. Do đó, thời gian tới, Việt Nam cần đẩy mạnh khai thác hiệu quả những tiềm năng, thế mạnh trong phát triển năng lượng tái tạo nhằm hiện thực hóa mục tiêu giảm mức phát thải ròng bằng 0 (Net-zero) vào năm 2050, góp phần phát triển nhanh, bền vững và nâng cao vị thế cạnh tranh của nền kinh tế.

Năng lượng tái tạo - yếu tố then chốt trong chiến lược phát triển bền vững hiện nay

Năng lượng tái tạo(1) là lĩnh vực ngày càng được khai thác phổ biến trong hệ thống năng lượng toàn cầu; có vai trò quan trọng trong định hướng phát triển bền vững ở nhiều quốc gia trên thế giới; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế gắn với tận dụng nguồn năng lượng sạch, an toàn; theo dự kiến, năng lượng tái tạo sẽ tăng trưởng 7,1% mỗi năm trong hai thập niên tới, sau đó thay thế than đá để trở thành nguồn năng lượng hàng đầu thế giới vào năm 2040(2). Nhận thức rõ điều đó, thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách(3) nhằm khuyến khích phát triển nguồn năng lượng tái tạo; đồng thời, tiến tới hiện thực hóa cam kết giảm mức phát thải ròng bằng “0” (Net-zero) vào năm 2050(4). Thực tế, Việt Nam là quốc gia có nhiều tiềm năng, lợi thế trong đầu tư, khai thác các loại năng lượng tái tạo (đặc biệt là năng lượng mặt trời và năng lượng gió). Mặt khác, nước ta đã và đang thực hiện quá trình đẩy mạnh chuyển đổi năng lượng theo hướng giảm dần nguồn điện sử dụng nhiên liệu hoá thạch, ưu tiên phát triển các nguồn năng lượng sạch, bền vững, giảm thiểu khí thải gây hiệu ứng nhà kính; tăng cường các hoạt động thu hút đầu tư phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, như nhà máy năng lượng mặt trời, năng lượng gió, nhiệt điện,… theo tinh thần phát huy nội lực cũng như tăng cường sự hợp tác, hỗ trợ từ các đối tác và thu hút nguồn vốn FDI từ các doanh nghiệp lớn.

Nhà máy điện mặt trời An Hảo (tỉnh Sóc Trăng)_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Về định hướng phát triển ngành năng lượng tái tạo:

Vấn đề phát triển năng lượng tái tạo được đề cập ngay từ chiến lược quốc gia đầu tiên về tăng trưởng xanh, cụ thể, Quyết định số 1393/QĐ-TTg, ngày 25-9-2012, của Thủ tướng Chính phủ, về “Phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2050” xác định cần giảm thiểu cường độ phát thải khí nhà kính, đồng thời, đẩy mạnh khai thác có hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo nhằm từng bước gia tăng tỷ trọng của các nguồn năng lượng sạch trong sản xuất, tiêu thụ năng lượng của quốc gia. Đến tháng 10-2021, Chính phủ đề ra các mục tiêu cụ thể, như tỷ trọng năng lượng tái tạo trên tổng cung năng lượng sơ cấp đạt 15% - 20% (năm 2030) và 25% - 30% (năm 2050)(5). Bên cạnh đó, Quyết định số 500/QĐ-TTg, ngày 15-5-2023, của Thủ tướng Chính phủ, về “Phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2023, tầm nhìn đến năm 2050" (Quy hoạch Điện VIII) xác định mục tiêu tổng quát trong dài hạn là bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; thực hiện chuyển đổi năng lượng gắn với hiện đại hóa sản xuất, xây dựng lưới điện thông minh, quản trị hệ thống điện tiên tiến, phù hợp với xu thế chuyển đổi xanh, giảm phát thải; hình thành hệ sinh thái công nghiệp năng lượng tổng thể dựa trên năng lượng tái tạo, năng lượng mới,...

Về các chính sách hỗ trợ phát triển ngành năng lượng tái tạo:

Đến nay, Nhà nước đã ban hành, thiết lập các khuôn khổ pháp lý nhằm xây dựng thị trường điện cạnh tranh và triển khai một loạt chính sách khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo(6), cụ thể:

Một là, tăng cường miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các dự án điện từ các nguồn năng lượng tái tạo, bao gồm thuế suất ưu đãi 10% trong 15 năm hoặc miễn thuế 4 năm (9 năm giảm 50% thuế). Các dự án năng lượng tái tạo được miễn thuế nhập khẩu đối với tài sản nhập khẩu cố định và vật tư xây dựng trong nước chưa sản xuất được; miễn, giảm thuế sử dụng, cho thuê đất được áp dụng cho các dự án đầu tư. Tuy nhiên, việc thực hiện thuế suất ưu đãi đối với việc nhập khẩu các thiết bị năng lượng tái tạo đang gặp nhiều khó khăn, bởi hiện chưa có biểu thuế riêng phân biệt cho các thiết bị sử dụng năng lượng hiệu suất cao.

Hai là, các dự án điện từ các nguồn năng lượng tái tạo được sử dụng các nguồn chính sách vay tín dụng ưu đãi, như tăng tỷ lệ vay so với các dự án khác từ 70% (theo thông lệ) lên 80%. Mặt khác, Chính phủ cũng áp dụng cơ chế mua bán giá điện FIT (Feed-in Tariffs)(7) nhằm hỗ trợ đầu tư năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện mặt trời và điện gió; đồng thời, ban hành nhiều chính sách ưu đãi nhằm điều chỉnh cơ chế mua bán điện đối với dự án điện mặt trời trên mái nhà, thay đổi từ cơ chế bù trừ điện năng (net-metering) thành cơ chế mua bán điện theo chiều giao và nhận riêng biệt(8)…

Ba là, nghiên cứu, thực hiện các chính sách ưu đãi về giá, cụ thể: 1- Năng lượng gió: Theo Quyết định số 39/2018/QĐ-TTg, ngày 10-9-2018, của Thủ tướng Chính phủ, về “Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 37/2011/QĐ-TTg, ngày 29 tháng 6 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế hỗ trợ phát triển dự án điện gió tại Việt Nam” quy định các nhà đầu tư tư nhân có điều kiện thuận lợi hơn khi giá bán điện tăng từ 7,8UScent/kWh lên 8,5USScent/kWh đối với các dự án trên đất liền; chính thức áp dụng giá 9,8USScent/kWh đối với các dự án trên biển; 2- Năng lượng sinh khối: Theo Quyết định số 08/2020/QĐ-TTg, ngày 5-3-2020, của Thủ tướng Chính phủ, về “Sửa đổi, bổ sung, một số điều của Quyết định số 24/2014/QĐ-TTg ngày 24 tháng 3 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện sinh khối tại Việt Nam” quy định bên mua điện (Tập đoàn EVN) có nghĩa vụ phải mua toàn bộ điện năng theo hợp đồng không đàm phán với giá bán điện theo 2 loại sinh khối chính: đồng phát nhiệt - điện (5,8UScent/kWh) và chi phí tránh được theo giá nhiệt điện than nhập khẩu (khoảng 7,5UScent/kWh áp dụng cho khu vực phía Nam). 3- Năng lượng điện rác: Quyết định số 31/2014/QĐ-TTg, ngày 5-5-2014, của Thủ tướng Chính phủ, “Về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án phát điện sử dụng chất thải rắn tại Việt Nam” quy định mức ưu tiên và hỗ trợ cho điện rác thải theo hai loại hình công nghệ: chôn lấp thu hồi khí mê-tan và thiêu đốt bảo đảm vệ sinh môi trường với mức giá lần lượt là 7,28UScent/kWh và 10,05UScent/kWh. 4- Năng lượng điện mặt trời: Theo Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg, ngày 11-4-2017, của Thủ tướng Chính phủ, “Về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam” quy định mức hỗ trợ giá khá cao (9,35UScent/kWh); đồng thời tạo điều kiện cho đầu tư và phát triển các dự án điện trên mái nhà bên cạnh điện mặt trời trên mặt đất hoặc nối lưới.

Thực trạng và tiềm năng phát triển ngành năng lượng tái tạo ở Việt Nam

Thời gian qua, ngành năng lượng tái tạo của Việt Nam thu hút được sự quan tâm đầu tư từ nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước. Năm 2018, tổng đầu tư vào năng lượng tái tạo đạt mức kỷ lục 5,2 tỷ USD, gấp 9 lần so với năm 2017; các chương trình, dự án hỗ trợ quốc tế đạt tổng giá trị tài trợ khoảng 440 triệu USD; vốn vay ODA ước tính 420 triệu USD và 15,5 triệu USD là viện trợ không hoàn lại. Đầu tư năng lượng tái tạo từ vị trí thứ 10 (năm 2018) vươn lên vị trí thứ ba (năm 2019) trong xếp hạng các lĩnh vực đầu tư hấp dẫn nhất cả nước (chỉ sau lĩnh vực công nghệ tài chính (fintech) và giáo dục)(9). Đến năm 2020, tổng vốn đầu tư FDI vào lĩnh vực sản xuất, phân phối điện đạt trên 5,1 tỷ USD, gấp hơn 4 lần so với năm 2019; có 113 dự án điện mặt trời, điện gió với tổng công suất trên 5.700MW được khai thác hết công suất.

Về điện mặt trời: Năm 2020, cả nước có 48 dự án đã được công nhận vận hành thương mại COD (Commercial Operation Date) với tổng công suất là 8.652,9MW, trở thành quốc gia có công suất điện mặt trời được lắp đặt toàn diện nhất Đông Nam Á (chiếm 2,3% tổng công suất toàn cầu và đạt công suất bình quân 60W/người). Hệ thống điện mặt trời cung cấp khoảng 10,6TWh điện (năm 2020), chiếm gần 4% tổng sản lượng điện của cả nước; xếp vị trí thứ 8 trong danh sách 10 quốc gia có năng lực lắp đặt điện mặt trời lớn nhất thế giới năm 2020(10).

Về điện gió: Hệ thống điện quốc gia hiện có 146 dự án điện gió đã ký hợp đồng mua bán điện (PPA) với công suất là 8.171,475MW (được công nhận vận hành thương mại COD). Năm 2021, tốc độ tăng trưởng điện gió ghi nhận kết quả đáng kể, tổng năng lực điện gió tăng từ 540MW (năm 2020) lên khoảng 4.000MW (năm 2021), góp phần đưa Việt Nam vươn lên vị trí thứ 2 trong khu vực (sau Trung Quốc) về tốc độ phát triển nguồn năng lượng tái tạo(11).

Từ năm 2018 đến nay, ngành năng lượng tái tạo chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ trong hoạt động đầu tư, kinh doanh (đặc biệt là các dự án điện gió và điện mặt trời); tỷ trọng sản lượng điện từ các nguồn năng lượng tái tạo (gồm điện mặt trời nối lưới, điện gió, năng lượng sinh khối và thủy điện) tăng lên nhanh chóng. Đến nay, tổng công suất các nhà máy điện năng lượng tái tạo và thủy điện vừa và lớn đạt 43.126MW, chiếm 55,2% tổng công suất hệ thống điện của Việt Nam (78121 MW), trong đó điện gió đạt 4.126 MW, điện mặt trời mái nhà là 7.660MW, điện mặt trời trang trại 8.904MW, thủy điện là 22.111MW, năng lượng sinh khối là 325MW(12). Tuy vậy, năng lượng tái tạo hiện vẫn còn chiếm tỷ trọng tương đối thấp, khoảng 9% trong tổng nguồn cung năng lượng sơ cấp của cả nước (năm 2020) và nguồn cung năng lượng sơ cấp vẫn phụ thuộc chủ yếu từ than (chiếm tỷ trọng 51% trong cùng năm).

Về triển vọng phát triển năng lượng tái tạo hiện nay

Thứ nhất, điều kiện địa lý tự nhiên ở Việt Nam rất lý tưởng cho sự phát triển của ngành năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện mặt trời và điện gió. Việt Nam có số giờ nắng cao, trung bình từ 1.500 giờ - 1.700 giờ mỗi năm với cường độ bức xạ mặt trời không thay đổi đáng kể; năng lượng mặt trời trên mái nhà dự báo sẽ chiếm khoảng 50% tổng công suất nặng lượng mặt trời của Việt Nam (năm 2030); nguồn tài nguyên gió lớn nhất trong khu vực với tiềm năng 311GW và trên 39% tổng diện tích có tốc độ gió lớn hơn 6m/giây (tương đương công suất 512GW). Bên cạnh đó, với mạng lưới gồm khoảng 3 nghìn sông, ngòi lớn, nhỏ, nước ta là một trong số 14 quốc gia trên thế giới đứng đầu về tiềm năng thủy điện; sở hữu khoảng 8,6% diện tích đất, nước thích hợp cho phát triển các trang trại điện gió; có trên 120.000 trạm thủy điện với tổng công suất ước tính đạt 300MW(13). Thêm vào đó, Việt Nam có tiềm năng rất lớn trong tận dụng nguồn năng lượng sinh khối từ nhiều nguồn khác nhau, như gỗ củi, phế thải từ nông nghiệp, rác thải đô thị,...; là yếu tố quan trọng góp phần giải quyết bài toán bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; giảm thiểu ô nhiễm môi trường; cải thiện chi phí, tăng hiệu quả sản xuất - kinh doanh cho các doanh nghiệp thuộc các ngành năng lượng, nông nghiệp, lâm nghiệp, biển; nghiên cứu, đào tạo, sáng chế,…  Ngoài ra, nước ta còn có tiềm năng năng lượng địa nhiệt, năng lượng biển (thủy triều)(14),...

Thứ hai, theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), Việt Nam là quốc gia sử dụng điện nhiều thứ hai trong khu vực Đông Nam Á. Trong vòng 10 năm tới, tốc độ tăng trưởng năng lượng tái tạo đạt khoảng 20%, mở ra cơ hội lớn cho các tập đoàn nước thực hiện đầu tư, kinh doanh. Năm 2021, Việt Nam xếp hạng thứ 31 trong danh sách các quốc gia có độ thu hút cao về các cơ hội đầu tư và triển khai trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Tính riêng đối với chuyển dịch 2 ngành điện gió và điện mặt trời, tiềm năng đóng góp vào GDP cả nước lên tới 70 - 80 tỷ USD, tạo ra khoảng 105 nghìn việc làm trực tiếp(15).

Thứ ba, Đảng và Nhà nước hiện đang tích cực, mở rộng tham gia các khuôn khổ hợp tác quốc tế về chống biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính. Nhiều chính sách hỗ trợ và các giải pháp được triển khai nhằm thu hút đầu tư, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia quá trình chuyển đổi năng lượng tái tạo quốc gia. Các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể triển khai thực hiện nhằm thu hút đầu tư tư nhân vào lĩnh vực năng lượng tái tạo, bảo đảm thực hiện thành công Chiến lược tăng trưởng xanh cũng như hiện thực hóa mục tiêu đạt tỷ lệ 67,5% - 71,5% năng lượng tái tạo đến năm 2050 được đề ra trong Quy hoạch Điện VIII.

Thứ tư, phát triển năng lượng tái tạo đang dần trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển ngành năng lượng toàn cầu và chiếm vị trí quan trọng trong phát triển bền vững ở các nền kinh tế trên thế giới; do đó, năng lượng tái tạo sẽ trở thành nguồn sản xuất điện chính và ước tính, cung cấp khoảng một phần ba lượng điện trên thế giới. Việt Nam được đánh giá có nhiều tiềm năng để thu hút đầu tư phát triển ngành năng lượng tái tạo trong tương lai, đồng thời, vị thế địa - kinh tế trong chuỗi cung ứng toàn cầu mở ra nhiều điều kiện, cơ hội thuận lợi trong tăng trưởng xanh để có thể chuyển mình, bắt kịp, tiến cùng, vượt lên, đi tắt đón đầu và tạo đà cho một bước nhảy vọt về phát triển kinh tế - xã hội và môi trường.

Thi công công trình điện gió tại tỉnh Quảng Trị_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Một số hàm ý giải pháp, nhiệm vụ thời gian tới

Thứ nhất, hệ thống chính sách phát triển năng lượng tái tạo cần được nghiên cứu, xây dựng rõ ràng, nhất quán giữa các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch triển khai. Trong đó, cần sớm xây dựng và ban hành Luật Năng lượng tái tạo để tạo bởi nước ta mới chỉ có Luật Điện lực, Luật Sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng nhưng chưa đề cập nhiều đến lĩnh vực năng lượng tái tạo. Việc ban hành Luật Năng lượng tái tạo sẽ là hành lang cơ sở pháp lý quan trọng cho triển khai các hoạt động đầu tư phát triển; mặt khác, cần phải sớm hoàn thiện cơ chế để đẩy mạnh thực hiện ưu đãi thuế đối với các thiết bị năng lượng tái tạo và thiết bị hiệu suất cao.

Thứ hai, tập trung nghiên cứu, triển khai các chính sách thúc đẩy hoạt động cải tiến và phát triển khoa học - công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng năng lượng tái tạo. Trong đó, ưu tiên đổi mới, cải tiến các chính sách từ Chính phủ, tạo động lực phát triển nhằm thu hút các dự án công nghệ mới. Đồng thời, hình thành các cơ chế các-bon xanh, tài chính xanh để khuyến khích đầu tư cải tiến công nghệ cho phát triển năng lượng tái tạo; xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm dưới sự phối hợp nghiên cứu giữa các viện nghiên cứu, các trường đại học trong lĩnh vực năng lượng nói chung và năng lượng tái tạo nói riêng.

Thứ ba, tập trung triển khai các giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước cho phát triển năng lượng tái tạo. Đối với nguồn vốn trong nước, cần nghiên cứu, ban hành nhiều chính sách ưu đãi và hỗ trợ cho doanh nghiệp trong nước trực tiếp tham gia sản xuất, lắp ráp, sửa chữa các loại thiết bị sử dụng năng lượng tái tạo. Để thu hút nguồn vốn nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư có uy tín và kinh nghiệm trên thế giới, cần xây dựng hành làng pháp lý theo chuẩn quốc tế, tạo lập thị trường điện cạnh tranh hơn, mở rộng lưới điện có kiểm soát đối với nguồn năng lượng tái tạo và các cơ chế, chính sách hỗ trợ cho đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực năng lượng tái tạo; tăng cường mối liên kết giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước, giữa các doanh nghiệp trong ngành và liên ngành.

Thứ tư, khuyến khích, hỗ trợ cộng đồng phát triển và mở rộng các mô hình sử dụng năng lượng tái tạo, như đô thị xanh, nông thôn xanh, tòa nhà xanh. Nghiên cứu, xây dựng Quỹ phát triển năng lượng tái tạo; nguồn vốn của Quỹ có thể huy động một phần từ nguồn vốn ngân sách, từ chi phí môi trường với năng lượng hóa thạch, từ các nguồn tài trợ trong và ngoài nước nhằm hỗ trợ tài chính cho khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo.

Thứ năm, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, khuyến khích sự tham gia của toàn xã hội vào phát triển thị trường năng lượng tái tạo; nâng cao nhận thức về vai trò quan trọng của việc phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo trong phát triển kinh tế - xã hội, hướng đến mục tiêu phát triển nhanh và bền vững; đẩy mạnh tuyên truyền và nâng cao trách nhiệm cho người dân trong thực hiện sử dụng nguồn năng lượng sạch gắn với tiết kiệm năng lượng. Đồng thời, thúc đẩy quá trình xanh hóa trong sản xuất kinh, kinh doanh bằng việc khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng năng lượng tái tạo thông qua mô hình xây dựng - cho thuê - chuyển giao BLT (Build - Lease - Transfer) đã được triển khai ở một số quốc gia nhằm giúp các doanh nghiệp sử dụng điện sạch với chi phí thấp.

Theo Tạp chí Cộng Sản

Chia sẻ:

Bài viết liên quan

Tổng Hợp Các Công Nghệ Sản Xuất Pin Năng Lượng Mặt Trời
Bài viết

Tổng Hợp Các Công Nghệ Sản Xuất Pin Năng Lượng Mặt Trời

Việc áp dụng và phát triển các công nghệ sản xuất pin năng lượng mặt trời đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu suất và tuổi thọ của sản phẩm. Và Việt Nhật Energy tự hào mang đến cho bạn sản phẩm pin mặt trời chính hãng, giá tốt nhất. Liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn và báo giá chi tiết về pin mặt trời mới nhất.1. Công nghệ pin năng lượng mặt trời là gì?Công nghệ pin năng lượng mặt trời là một phần của ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, tập trung vào việc chuyển đổi năng lượng ánh sáng mặt trời thành điện năng sử dụng được. Công nghệ sản xuất pin mặt trời này thường sử dụng các tấm pin mặt trời (hay còn gọi là tấm pin quang điện hoặc tấm pin năng lượng mặt trời) để hấp thụ ánh sáng mặt trời và tạo ra điện năng.2. Tầm quan trọng của pin mặt trờiTầm quan trọng của các công nghệ pin mặt trời không thể phủ nhận, với những ưu điểm và lợi ích mà chúng mang lại trong ngành công nghiệp năng lượng tái tạo.Áp dụng công nghệ mới sẽ làm tăng cường hiệu suất của các tấm pin đồng thời giúp tối ưu hóa hiệu quả của các dự án điện mặt trời, đem lại lợi nhuận cao hơn cho các nhà đầu tư.Công nghệ sản xuất tấm pin năng lượng mặt trời giúp gia tăng độ bền và tuổi thọ của tấm pin, thúc đẩy sự tiến bộ trong việc chống lại các yếu tố môi trường như mưa, nhiệt độ cao, hoặc tuyết.Công nghệ sản xuất pin mặt trời giúp gia tăng độ ổn định cho quá trình vận hành hệ thống. Từ đó sẽ giúp giảm thiểu sự cố và rủi ro trong quá trình vận hành, đảm bảo ổn định cung cấp điện năng tái tạo.Công nghệ sản xuất pin năng lượng mặt trời cung cấp khả năng hấp thụ năng lượng tốt hơn, giảm tối đa tác động của bóng che lên hiệu suất của các tấm pin, đặc biệt ở điều kiện ánh sáng không đồng đều nhau.3. Tổng hợp các công nghệ pin mặt trời mới nhất hiện nayHiện nay có khá nhiều các công nghệ pin mặt trời xuất hiện và được ưa chuộng trên thị trường. Mỗi công nghệ sản xuất pin năng lượng mặt trời sẽ có những ưu điểm nổi trội và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.3.1 Tế bào đơn tinh thể (Monocrystalline) và tế bào đa tinh thể (Polycrystalline)Tấm pin mặt trời sử dụng tế bào đơn tinh thể (Mono) và tế bào đa tinh thể (Poly) đều có vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp năng lượng tái tạo. Cả hai loại pin này đều sử dụng silic nhưng trong cấu trúc khác nhau.Trong pin Mono, silic được sử dụng ở dạng đơn sắc và tinh khiết, được cắt ra thành các tế bào quang điện độc lập. Điều này tạo ra hiệu suất cao hơn cho pin Mono so với pin Poly. Tuy nhiên, do quá trình sản xuất và cấu tạo phức tạp hơn, pin Mono thường có giá thành cao hơn.Còn pin Poly được tạo ra từ một miếng silic tạo thành từ nhiều tinh thể gộp lại. Mặc dù hiệu suất của pin Poly không cao bằng pin Mono, nhưng chúng vẫn cung cấp một lựa chọn kinh tế và hiệu quả cho các dự án điện mặt trời quy mô lớn.3.2 Công nghệ tế bào đơn tinh thể đúc (Cast mono cells)Công nghệ Cast Mono Cells là một đột phá trong lĩnh vực pin mặt trời, sử dụng quy trình sản xuất đúc tế bào quang điện để tạo ra các sản phẩm với chi phí thấp hơn và tiêu tốn ít năng lượng hơn so với các phương pháp truyền thống. Tuy nhiên, dù đã mang lại sự tiết kiệm về chi phí, các tế bào đơn tinh thể đúc vẫn chưa đạt được hiệu suất như các tế bào đơn tinh thể thông thường.3.3 Công nghệ sản xuất pin năng lượng mặt trời PERCCông nghệ PERC (Passivated Emitter Rear Cell) là một phương pháp tiên tiến trong sản xuất pin mặt trời, sử dụng một tấm film lắp vào mặt sau của tế bào quang điện. Bằng cách kết hợp với các hóa chất trong túi nhỏ trong màng, công nghệ này giúp tăng cường khả năng hấp thụ ánh sáng và làm giảm sự tái tổ hợp electron. Điều này dẫn đến việc tăng cường phản xạ nội bộ và cải thiện hiệu suất tổng thể của tấm pin mặt trời.3.4 Công nghệ Multiple/Wire BusbarsMulti Ribbon and Wire Busbars là một trong các công nghệ sản xuất pin mặt trời sử dụng các dây hoặc bằng kim loại mỏng để chạy xuống từng cell pin và dẫn các electron ra khỏi mạch ngoài để tạo thành dòng điện. Đây là một phương pháp quan trọng giúp cải thiện hiệu suất của các tấm pin mặt trời.Hiện nay, các tấm pin mặt trời thường được sản xuất với số lượng Busbars tăng lên, từ 5 đến 6 Busbars, và thậm chí có thể lên đến 9 đến 12 Busbars. Mục tiêu của việc tăng số lượng Busbars là để cải thiện khả năng truyền tải các electron từ cell pin ra mạch ngoài, từ đó tăng hiệu suất của tấm pin mặt trời.Bằng cách tăng số lượng Busbars, các tế bào pin có thể truyền tải electron một cách hiệu quả hơn, giảm thiểu mất mát điện và tăng cường khả năng chuyển đổi năng lượng từ ánh sáng mặt trời thành điện năng.3.5 Công nghệ Split PanelsHalf-cut cells là công nghệ tiên tiến trong sản xuất pin mặt trời, sử dụng phương pháp cắt cell truyền thống ra hai phần bằng nhau thông qua tia laser. Kết quả là, tấm pin mặt trời được phân chia thành hai bảng nhỏ hơn, mỗi bảng có công suất chỉ đạt khoảng 50% so với tấm pin ban đầu. Công nghệ này không chỉ giúp tăng hiệu suất tổng thể của hệ thống pin mặt trời mà còn giảm thiểu các tổn thất điện trở khi dòng điện đi qua busbar.3.6 BiFacial Solar Modules – Mô đun công nghệ pin mặt trời hai mặtBifacial cells là công nghệ sản xuất tấm pin năng lượng mặt trời, có khả năng hấp thụ ánh sáng từ cả hai phía. Các Bifacial cells có thể tạo ra năng lượng cao hơn đến 27% so với các tấm pin đơn tinh thể truyền thống. Các tấm pin Bifacial thường có mặt trước bằng kính và mặt sau trong suốt để hấp thụ ánh sáng phản xạ từ mặt sau của tấm pin. Để giảm nguy cơ hư hỏng, mô-đun Bifacial có thể sử dụng mặt sau bằng kính dày hơn.3.7 Dual Glass Panels – Công nghệ pin mặt trời hai mặt kínhCông nghệ Dual Glass Panels là việc sử dụng một mặt kính cường lực làm tấm nền thay thế cho tấm nền truyền thống trong pin mặt trời. Kết quả là tạo ra một tấm pin có hai mặt kính cường lực.Phương pháp này mang lại nhiều lợi ích, bao gồm tính ổn định cao hơn cho hoạt động của tấm pin, không bị phản ứng và không hư hỏng theo thời gian, cũng như không bị suy thoái UV. Từ đó sẽ giúp gia tăng tuổi thọ của tấm pin mặt trời và đảm bảo hiệu suất duy trì trong thời gian dài.3.8 Frameless Panels – Tấm pin không khungCông nghệ pin mặt trời Frameless Panels này loại bỏ cần thiết của khung nhôm truyền thống, giảm tình trạng bám bụi và tạo điều kiện cho việc vệ sinh bề mặt dễ dàng hơn, từ đó tăng sản lượng điện mặt trời.Tuy nhiên, điều này cũng làm cho quá trình lắp đặt trở nên phức tạp hơn vì cần sử dụng hệ thống kẹp đặc biệt để giữ cho các tấm pin ổn định và an toàn. Mặc dù việc này sẽ làm tăng thêm chi phí và công sức cho quá trình lắp đặt, nhưng nhờ vào hiệu suất cao và sự thuận tiện trong bảo dưỡng, mang lại lợi ích lớn trong việc sản xuất điện từ năng lượng mặt trời.3.9 Công nghệ Shingled CellsShingled Cells là một trong các công nghệ sản xuất pin năng lượng mặt trời, thực hiện bằng cách chồng chéo các dải tế bào mỏng trên tấm pin. Công nghệ này bao gồm việc sử dụng laser để cắt một tế bào thành 5 – 6 dải, sau đó xếp chúng theo cấu trúc ván lợp và kết nối bằng keo ở phía sau.Shingled Cells giúp giảm hiệu ứng đổ bóng, với mỗi tế bào hoạt động độc lập một cách hiệu quả. Tính độc lập này tạo điều kiện cho mỗi tế bào hoạt động tối ưu, tăng hiệu suất tổng thể của tấm pin mặt trời mà không cần sự hạn chế từ các hiệu ứng đổ bóng.3.10 Công nghệ N-Type Solar Cells hiệu suất caoVào những năm 1954, khi tấm pin mặt trời đầu tiên ra đời, công nghệ N-Type Solar Cells sử dụng wafer silicon pha tạp loại N. Tuy nhiên, theo thời gian, silicon loại P đã được chứng minh là hiệu quả hơn về chi phí. Điều này đã dẫn đến loại tế bào sử dụng silicon loại P trở thành thống trị, chiếm hơn 80% thị trường toàn cầu vào năm 2017.3.11 Công nghệ pin mặt trời với tế bào quang điện IBCCông nghệ IBC (Interdigitated Back Contact), hay còn được biết đến là công nghệ tế bào quang điện IBC, sử dụng một mạng lưới dây dẫn có từ 30 dây trở lên được tích hợp vào phía sau của cell pin. Điều này khác biệt so với các cell pin tiêu chuẩn, thường có 4 đến 6 Busbars lớn và nhiều đường dẫn phụ fingers ở mặt trước.Công nghệ IBC có tác dụng giảm che bóng cho tế bào và làm giảm phản xạ của một số photon ánh sáng. Kết quả là tăng hiệu suất cho tấm pin mặt trời và giúp cải thiện hiệu suất tổng thể của hệ thống năng lượng mặt trời một cách đáng kể.3.12 Công nghệ sản xuất pin mặt trời HJT CellsCông nghệ pin mặt trời HJT Cells sử dụng trên cơ sở silic tinh thể thông thường, kết hợp với các lớp silic thin film bổ sung ở hai bên của tế bào để tạo thành heterojunction (dị hợp). Các tế bào dị hợp nhiều lớp này có khả năng tăng hiệu quả mạnh mẽ.Thử nghiệm trong phòng thí nghiệm đã chứng minh rằng công nghệ HJT Cells có thể đạt hiệu suất lên đến 26,5% khi kết hợp với công nghệ IBC. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc nâng cao hiệu suất của các tấm pin mặt trời và mang lại tiềm năng lớn cho ngành công nghiệp năng lượng mặt trời.

calendar_today 06/12/2024
Tìm hiểu về công nghệ quang điện mặt trời
Bài viết

Tìm hiểu về công nghệ quang điện mặt trời

Công nghệ quang điện (PV) - thường được gọi là tấm pin mặt trời - tạo ra năng lượng bằng cách sử dụng các thiết bị hấp thụ năng lượng từ ánh sáng mặt trời và chuyển nó thành năng lượng điện thông qua các vật liệu bán dẫn.Các thiết bị này, được gọi là pin mặt trời, sau đó được kết nối để tạo thành các đơn vị tạo ra năng lượng lớn hơn được gọi là mô-đun hoặc tấm pin.Công nghệ quang điện hoạt động như thế nào?Vật liệu và thiết bị quang điện (PV) chuyển đổi ánh sáng mặt trời thành năng lượng điện (hay còn gọi là điện năng lượng mặt trời). Một thiết bị PV duy nhất được gọi là một tế bào. Một tế bào PV riêng lẻ thường nhỏ, thường tạo ra công suất khoảng 1 hoặc 2 watt. Những tế bào này được làm từ các vật liệu bán dẫn khác nhau và thường nhỏ hơn độ dày của 4 sợi tóc người. Để có thể chịu được ở ngoài trời trong nhiều năm, các tế bào được kẹp giữa các vật liệu bảo vệ kết hợp giữa thủy tinh và / hoặc nhựa.Để tăng sản lượng điện của các tế bào PV, chúng được kết nối với nhau theo chuỗi để tạo thành các đơn vị lớn hơn được gọi là mô-đun hoặc bảng. Các mô-đun có thể được sử dụng riêng lẻ hoặc một số mô-đun có thể được kết nối với nhau để tạo thành mảng. Một hoặc nhiều mảng sau đó được kết nối với lưới điện như một phần của hệ thống PV hoàn chỉnh. Do cấu trúc mô-đun này, các hệ thống PV có thể được xây dựng để đáp ứng hầu hết mọi nhu cầu điện năng, dù nhỏ hay lớn.Các mô-đun và mảng PV chỉ là một phần của hệ thống PV . Các hệ thống cũng bao gồm các cấu trúc lắp đặt hướng các tấm pin về phía mặt trời, cùng với các thành phần lấy điện một chiều (DC) được tạo ra bởi các mô-đun và chuyển nó thành điện xoay chiều (AC) được sử dụng để cung cấp năng lượng cho tất cả các thiết bị.hiểu về tấm pin mặt trờiTấm Pin năng lượng mặt trời hay còn gọi là Pin quang điện (Solar panel) bao gồm nhiều tế bào quang điện (solar cells) – là phần tử bán dẫn có chứa trên bề mặt một số lượng lớn các cảm biến ánh sáng là Diot quang, thực hiện biến đổi năng lượng mặt trời thành năng lượng điện. Cường độ dòng điện (I), hiệu điện thế (U) hoặc điện trở (R) của Pin mặt trời thay đổi phụ thuộc vào lượng ánh sáng mặt trời chiếu lên chúng.Tế bào quang điện được ghép lại thành khối để trở thành pin mặt trời (thông thường 60 hoặc 72 tế bào quang điện trên một tấm pin mặt trời). Tế bào quang điện có khả năng hoạt động dưới ánh sáng mặt trời hoặc ánh sáng nhân tạo. Chúng có thể được dùng như cảm biến ánh sáng (VD: cảm biến hồng ngoại), hoặc các phát xạ điện từ gần ngưỡng ánh sáng nhìn thấy hoặc đo cường độ ánh sáng.Sự chuyển đổi này thực hiện theo hiệu ứng quang điện. Hoạt động của pin mặt trời được chia làm 3 giai đoạn:* Giai đoạn 1: Đầu tiên năng lượng từ các photon ánh sáng được hấp thụ và hình thành các cặp electron-hole trong chất bán dẫn.* Giai đoạn 2: Các cặp electron-hole sau đó bị phân chia bởi ngăn cách tạo bởi các loại chất bán dẫn khác nhau (p-n junction). Hiệu ứng này tạo nên hiệu điện thế của pin mặt trời.* Giai đoạn 3: Pin mặt trời sau đó được nối trực tiếp vào mạch ngoài và tạo nên dòng điện.

calendar_today 06/12/2024
Kết hợp sản xuất nông nghiệp với điện mặt trời để phát triển bền vững
Bài viết

Kết hợp sản xuất nông nghiệp với điện mặt trời để phát triển bền vững

Mô hình sản xuất nông nghiệp kết hợp điện mặt trời sẽ tối đa hóa lợi nhuận trên cùng diện tích đất sản xuất, tăng nguồn thu cho người dân. Đặc biệt, góp phần giảm thiểu tác động xấu đến môi trường và phù hợp với xu thế phát triển của thế giới.Là một trong số ít các quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu, việc chuyển dịch sang năng lượng xanh là rất quan trọng và cần thiết đối với Việt Nam. Tuy nhiên, chủ trương nhất quán của nhà nước ta trong thời gian qua cũng như trong tương lai là phát triển nhanh nhưng phải bền vững, hay nói một cách khác phát triển nhưng phải đi đôi với bảo vệ môi trường.Nhận thức rõ tầm quan trọng của năng lượng tái tạo đối với nền kinh tế, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách chú trọng phát triển năng lượng tái tạo. Theo đó, ngày 6/4/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời tại Việt Nam. Đây là cột mốc quan trọng trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, mở ra cơ hội cho thị trường điện sạch tại Việt Nam và giúp người dân, doanh nghiệp yên tâm khi lắp điện mặt trời.Theo GS.TS Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam: Kết hợp năng lượng mặt trời trong sản xuất nông nghiệp là mô hình sử dụng đất kết hợp có chủ đích đối với hoạt động phát điện mặt trời và sản xuất nông nghiệp (bao gồm cả trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản), nhằm giảm nhẹ xung đột sử dụng tài nguyên đất và mang lại lợi ích kinh tế xã hội lớn hơn so với ứng dụng đơn lẻ.Ngoài ra, hệ thống pin mặt trời sẽ tạo bóng râm giúp giảm bức xạ mặt trời, giảm tốc độ bốc hơi nước và tiết kiệm được khoảng 14-29% nước tưới cho cây trồng. Do đó, hệ thống pin mặt trời rất thích hợp đối với nhiều loại cây ưa ánh nắng tán xạ.Mô hình điện mặt trời kết hợp ao nuôi tôm tại Bạc Liêu.Hiện nay, ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long có rất nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp kết hợp điện mặt trời đem lại hiệu quả kinh tế cao. Bạc Liêu là một trong những vùng nuôi tôm trọng điểm của cả nước. Đầu tư điện cho nuôi tôm rất tốn kém, do vậy, thời gian gần đây, nhiều mô hình ao nuôi tôm tại Bạc Liêu đã và đang lắp đặt hệ thống điện mặt trời để đảm bảo nguồn năng lượng phục vụ cho nuôi trồng thủy sản. Điển hình phải kể đến dự án cánh đồng nuôi tôm rộng 5,6 ha của Công ty Cổ phần Solan Việt Nam ở ấp Thống Nhất, xã Vĩnh Hậu (huyện Hòa Bình, Bạc Liêu) được phủ kín bởi những tấm pin năng lượng mặt trời.Anh Vũ Văn Thành – người trực tiếp quản lý dự án trên cho biết: “Để lắp điện mặt trời cho 1 ha ao nuôi tôm tốn khoảng 13 tỉ đồng, với giá bán điện hiện nay tính cả chi phí quản lý thì mất khoảng 5,5 – 6 năm sẽ thu hồi vốn đầu tư”. Như vậy, việc lắp tấm pin năng lượng mặt trời không chỉ đảm bảo năng lượng điện cho ao nuôi tôm mà còn có thể bán điện, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho mô hình.Là một tỉnh thuần nông với nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp, Hậu Giang xác định nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng nền nông nghiệp bền vững theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ cao. Bên cạnh đó, việc phát triển điện mặt trời cũng được xác định là thế mạnh của tỉnh.Ông Nguyễn Quốc Toàn, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Hậu Giang cho biết: “Mô hình kết hợp nông nghiệp công nghệ cao và điện mặt trời áp mái là mô hình phù hợp với tỉnh Hậu Giang. Hệ thống điện mặt trời có thể đấu nối vào đường dây 22 kV có ở khắp mọi nơi, vừa giúp giảm thiếu hụt nguồn điện tại chỗ, vừa tạo thêm việc làm và phát triển nông nghiệp địa phương”.Điện mặt trời kết hợp sản xuất nông nghiệp công nghệ cao sẽ tạo ra lợi ích kép. Theo đó, với diện tích đất bình quân 1,2 ha có thể đầu tư 1 MWp trên nhà kính hoặc mái nhà trang trại để làm nông nghiệp bên dưới như trồng nấm, trồng rau hoặc các loại cây phù hợp, nuôi bò cao sản, gà, heo, dế…Chia sẻ về mục tiêu phát triển năng lượng tái tạo của địa phương trong thời gian tới, ông Nguyễn Quốc Toàn cho biết: "Mục tiêu từ năm 2020 đến 2025, hệ thống điện mặt trời áp mái phải phát triển rộng rãi trên mái nhà từ hộ gia đình, nhà xưởng đến trang trại, phấn đấu đạt ít nhất 120 MW trên toàn tỉnh”.Có thể thấy, việc kết hợp sản xuất nông nghiệp với điện mặt trời không chỉ giúp tăng giá trị sử dụng đất mà còn tạo cơ hội cho người nông dân có thêm thu nhập, tiếp cận được nguồn năng lượng sạch và bền vững, từ đó góp phần bảo vệ môi trường.Để phát triển rộng rãi mô hình sản xuất nông nghiệp kết hợp điện mặt trời áp mái không phải điều dễ dàng, đòi hỏi phải áp dụng công nghệ cao, giá thành đắt, tuy nhiên, sẽ hạn chế tối đa những hệ lụy về môi trường, bệnh tật... Do đó, cần phải có chính sách cụ thể, phù hợp, linh hoạt với từng địa phương để điện mặt trời áp mái được phát triển đồng bộ, bền vững và tương xứng với tiềm năng sẵn có.Nguồn:kinhtemoitruong.vn

calendar_today 06/12/2024